Góc phụ huynh

HOÀ NHẬP CẢM GIÁC, BƯỚC KHỞI ĐẦU GIÚP TRẺ TỰ KỶ ỔN ĐỊNH VÀ LIÊN HỆ VỚI THẾ GIỚI XUNG QUANH

                                                               

  Phan Thiệu Xuân Giang

CNTL. Nguyễn Ngọc Trúc Quyên

 CNTL.  Nguyễn Thị Mỹ Dung

CNTL.  Đoàn Thế Dũng

CNTL.  Nguyễn Thị Thu

CNTL. Vũ Thị Ánh

Trong thực hành lâm sàng hằng ngày, các nhà chuyên môn phải đối diện với những khó khăn về điều chỉnh cảm giác ở những trẻ khuyết tật về phát triển thần kinh như: tự kỷ, chậm phát triển tâm thần, bại não…những khó khăn này có thể làm cản trợ sự tự ổn định của trẻ và thiết lập mối quan hệ với người chăm sóc. Vì thế giúp trẻ điều chỉnh được cảm giác cũng là giúp trẻ tự ổn định và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thiết lập quan hệ với người xung quanh.

Hoà nhập cảm giác là gì?

Hệ thống thần kinh trung ương của con người phát triển sau khi sinh theo cách đáp ứng với các kích thích thu nhập từ môi trường vào thông qua các giác quan. Ví dụ như việc cảm nhận về không gian đến từ việc trẻ nhận biết được vị trí của chân tay và thân người, các bộ phận này đang thực hiện chức năng gì, đây là điều rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ. Đối với trẻ có vấn đề về hoà nhập cảm giác, những cảm giác này không được hoàn chỉnh. Có một sự mất điều chỉnh trong chức năng của não bộ, ví dụ trẻ có vấn đề khó khăn trong điều chỉnh cảm giác xúc giác sẽ không thể xử lý hay điều chỉnh được cảm giác xúc giác khi người khác hay vật khác chạm vào mình, trẻ có thể phản ứng quá mức như biểu hiện nhột và tránh né hay phòng vệ xúc giác (Tactile defensiveness) hoặc đáp ứng dưới ngưỡng.

Thuật ngữ rối loạn chức năng hoà nhập cảm giác dùng để nói đến sự khiếm khuyết này. Rối loạn chức năng hoà nhập cảm giác có thể hiện diện trong nhiều rối loạn khác nhau liên quan đến nhiều lãnh việc phát triển khác nhau của trẻ như nhận thức, vận động, xã hội/cảm xúc, âm ngữ/ngôn ngữ hay chú ý. Khi trẻ có khó khăn hoà nhập cảm giác, trẻ không thể đáp ứng với thông tin cảm giác hay hoạch định và tổ chức một cách chính xác những việc trẻ cần làm ở trường học hay tại nhà.

Sau đây là một số dấu hiệu biểu hiện của rối loạn chức năng hoà nhập cảm giác:

-Chậm trễ trong việc học tập ở trường

-Chậm trễ về kỹ năng âm ngữ, ngôn ngữ và vận động

-Khó khăn khi phải chuyển từ tình huống này sang tình huống khác

-Dễ bị xao nhãng

-Cẩu thả/ bốc đồng

-Không có khả năng tự ổn định

-Đáp ứng quá mức hoặc dưới mức đối với các cảm giác xúc giác, chuyển động, hình ảnh hay âm thanh

-Vụng về

-Khái niệm về bản thân hay lòng tự trọng kém

-Các vấn đề về cảm xúc hay xã hội

-Mức hoạt động quá mức hay dưới mức bình thường

Các kỹ năng hoà nhập cảm giác-vận động quan trọng:

Thăng bằng: Thăng bằng cần thiết cho vận động hằng ngày, khi di chuyển nhờ khả năng thăng bằng mà ta không bị té ngã. Những hoạt động nhằm cải thiện khả năng thăng bằng của trẻ khuyết tật phải phù hợp với mức phát triển của trẻ.

Cảm giác bản thể: Cảm nhận về cơ bắp, các khớp, dây chằng, tình trạng của cơ thể và vị trí của cơ thể trong không gian. Cảm giác này không liên quan đến 5 giác quan mà liên quan đến ý thức về chính các phần cơ thể nhằm cho phép chúng ta thực hiện các nhiệm vụ hằng ngày và điều hợp khi vận động, ví dụ như cùng co thắt cơ và khớp ở hai bên cơ thể.

Hoạch định vận động: Hoạch định vận động là khả năng tổ chức hoạch định và thực hiện những nhiệm vụ vận động mới hay những vận động chưa được thực hành. Hệ thống cảm giác, đặc biệt là xúc giác có tầm quan trọng trong hoạch định vận động.

Xúc giác: Xúc giác là những tín hiệu cảm giác được cảm nhận thông qua da. Thông tin xúc giác là nền tảng căn bản để học tập về các vật thể bên ngoài cũng như tình trạng của cơ thể chúng ta. Nếu xúc giác không được xử lý tốt, nó có thể ảnh hưởng đến học tập và điều hợp.

Tiền đình: Cơ quan tiền đình ngoại vi nằm ở tai trong và được hoạt hoá bởi chuyển động hay thay đổi tư thế của đầu. Hệ thống tiền đình cùng với hệ thống cảm giác bản thể và hệ thống thị giác cùng hướng dẫn hệ thần kinh trung ương để nhằm xác định được vị trí của cơ thể trong không gian và chống lại trọng lực nhằm giúp cho trẻ giữ được thăng bằng. Thực hành các bài tập liên quan đến chức năng này làm cho khả năng thăng bằng, vận động, xử lý tiền đình và hoà nhập tốt hơn. Các hoạt động nên được khuyến khích nhưng không nên ép buộc trẻ vì có thể tạo ra sợ hãi.

Vận động điều hợp hai bên: Là khả năng điều chỉnh và phối hợp động tác hai bên cơ thể. Các vận động có thể có tính hai chiều tới lui  như đánh tay tới lui)  hay hai bên (như đánh tay hai bên khi đi). Điều hợp vận động hai bên có thể có được khi thông tin cảm giác xúc giác và cảm giác bản thể được xử lý.

Đầu tiên trẻ tiếp xúc với thế giới qua các giác quan, trẻ học tập qua giác quan và phát triển vận động để tự lập và khởi đầu trong mối quan hệ. Giai đoạn cảm giác vận động là giai đoạn khởi đầu của quá trình phát triển nhận thức (Piaget).

Sau đây là một vài hướng dẫn giúp cha mẹ, người chăm sóc hay nhà trị liệu có thể sử dụng để giúp trẻ ổn định và tương tác với người xung quanh

ĐÁP ỨNG VỚI TÂM TRẠNG CỦA TRẺ

Trước khi bạn bắt đầu tìm kiếm cách thức để tương tác với trẻ, ghi nhận tâm trạng của trẻ. Nếu trẻ ở trạng thái dễ bị kích thích hoặc quá kích thích, buồn ngủ hoặc rút lui, lúc này có thể rất khó tương tác với trẻ.  Mục tiêu đầu tiên của bạn là nên giữ trẻ ở trong tình trạng tỉnh táo ổn định. Nếu trẻ quá kích thích, hãy xoa dịu trẻ. Trẻ có đặc biệt thích thú một số cảm giác như sờ hoặc giữ một đồ vật  hay  thích một bài hát nào đó, hoặc một cung giọng và nhịp điệu trong giọng nói của bạn? Trẻ có thích một kiểu vận động nào đó không?  Ví dụ như thích đong đưa , lắc lư. Trẻ có ổn định hơn khi trẻ ở trong phòng nửa tối nửa sáng hay phòng sáng hơn?

Nếu trẻ buồn ngủ hoặc rút lui, bạn sẽ làm trẻ tỉnh táo hơn, một lần nữa, thu hút các giác quan  mà bạn biết rằng trẻ thích và làm cho trẻ tỉnh táo hơn. Khi bạn hát một bài hát nào đó? Khi bạn di chuyển nhanh hay theo cách ngộ nghĩnh? Khi bạn đưa mặt bạn vào sát trẻ hay khi bạn đặt mũ lên đầu bạn? Có kiểu chuyển động nào làm trẻ tỉnh táo hơn? Ví dụ như lắc lư, đong đưa, nhảy hay lăn người qua lại?

Hãy nghĩ về các đặc điểm cảm giác vận động của trẻ và nghĩ về hoạt động nào mà trẻ dễ chịu hoặc làm trẻ tỉnh táo và sử dụng những hoạt động này để lôi kéo trẻ vào trạng thái tỉnh táo ổn định.

GIỮ ĐƯỢC SỰ CHÚ Ý CỦA TRẺ QUA CÁC GIÁC QUAN CỦA TRẺ

Khi đã sử dụng được những cảm giác và vận động mà trẻ ưa thích để làm trẻ ổn định hay kích thích trẻ, tiếp tục sử dụng chúng để tương tác với trẻ. Mặc dầu mỗi phương thức cảm giác được mô tả một cách riêng lẻ ở đây nhưng hãy nhớ rằng thông tin được thu nhận một cách đồng thời, vì thế trẻ có thể nhìn, nghe và di chuyển tất cả trong cùng một thời gian.

Âm thanh: Cho trẻ âm thanh mà trẻ thích nhất

-Trẻ có chú ý đến tiếng ồn có giọng cao hơn những âm thanh có giọng thấp hay không? Hãy nói chuyện với trẻ bằng giọng cao đó để thu hút sự chú ý của trẻ.

-Trẻ có thích những âm thanh, tiếng ồn thấp?  Hạ thấp giọng của bạn xuống khi bạn thầm thì với trẻ. Nói một cách chậm rãi, mô tả hành động của trẻ bằng âm thanh.

-Trẻ có đáp ứng một cách tích cực với những tiếng ồn rung, như là âm thanh của máy sấy?  Hãy để trẻ gần với âm thanh đó. Nếu âm thanh đó làm trẻ ổn định, trẻ sẽ  sẵn sàng chú ý đến bạn nhiều hơn.

Sử dụng các vật mà tạo ra âm thanh trẻ thích nhằm giúp trẻ tương tác. Cười và gọi tên trẻ, chơi bóng với trẻ.

Sử dụng các cử chỉ kèm theo âm thanh càng nhiều nếu có thể- những nhóm từ như “ uh-oh!” hay “oh, không”… Hiệu ứng phóng đại này sẽ thu hút sự chú ý của trẻ  và cho trẻ cơ hội  để nhận ra vấn đề là gì.

Cảm giác xúc giác: Những loại xúc giác nào trẻ thích sờ hay thích được sờ? Sử dụng những chất liệu này nhằm thu hút sự chú ý của trẻ đối với bạn.

-Trẻ có thích cảm giác áp lực chặt đè lên da trẻ ?Hãy nằm kế trẻ trên sàn nhà, mặt của bạn gần mặt trẻ và dùng tay đè chặt lên người trẻ

-Trẻ có thích cảm giác mềm mại trơn tru? Hãy cho trẻ bột nặn để trẻ có thể nặn những gì trẻ thích

-Trẻ có thích xới tay vào trong thùng đậu hay gạo? Cho trẻ chơi với hộp cát và đồ chơi.

Nhiều trẻ thích chơi với thức ăn- không phải chúng gây khó chịu cho cha mẹ mà bởi vì hoạt động này tạo cho trẻ có cảm giác thích thú. Thay vì xem việc chơi với thức ăn là điều gây bừa bãi thì hãy xem nó như một cơ hội để tương tác với trẻ. Cũng đặt tay của bạn vào đó, cũng lấy thức ăn cùng với trẻ. Nếu trẻ ném thức ăn xuống sàn, hãy chuẩn bị một cái tô để chứa nó. Đừng ngạc nhiên nếu trẻ có ý muốn tránh né cái tô.Khi trẻ dễ chịu, dễ liên hệ và giao tiếp, sẽ có đủ thời gian để dạy trẻ gọn gàng ngăn nắp.

Ở thời điểm này bạn muốn thực hiện bất kỳ điều gì mà bạn có thể giúp trẻ thích thú với sự hiện diện của bạn.

Thị giác: Loại kinh nghiệm thị giác nào thu hút trẻ và cho trẻ niềm vui thích?

-Trẻ có thích gam màu sáng không? Khi bạn nhìn thấy trẻ liếc mắt vào vật gì sáng, hãy

để một chiếc mũ có màu hay chiếc khăn màu lên đầu bạn và đứng giữa trẻ và vật trẻ muốn nhìn. Sử dụng màu trẻ thích nhìn để thu hút sự chú ý của trẻ đối với bạn.

-Trẻ có thích các vật thể sống động như xe ô tô, xe lửa điện hay chong chóng? Lần tới khi trẻ liếc mắt nhìn chiếc xe, hãy chơi trốn tìm bằng cách nấp sau chiếc xe, gọi tên trẻ rồi di chuyển tới lui. Nếu trẻ thích chong chóng hãy để nó gần mặt bạn, thổi và gọi tên trẻ khi bạn làm như vậy. Dùng những vật sống động mà trẻ ưa thích để thu hút sự chú ý của trẻ đến bạn.

-Lấy 2 đèn chớp , để phòng trẻ tối một chút rồi đưa đèn vào, dùng đèn này đuổi theo đèn kia, hay xếp đèn xung quanh vật nào đó.

Mùi và vị: Nếu bạn biết trẻ đặc biệt thích một vài loại thức ăn nào đó, hãy cùng ăn thức ăn này với trẻ. Ăn cùng một tô. Dùng tay để lấy thức ăn. Nếu trẻ cố dừng bạn lại hay kéo tô thức ăn về phía trẻ, cho trẻ thêm thức ăn chỉ khi trẻ nghi ngờ việc chia sẻ này không mang lại niềm vui. Trong khi trẻ ăn, gợi ý cho trẻ bằng giọng nói của bạn hay bằng hành động, giữ được sự chú ý của trẻ càng lâu càng tốt. Thầm thì với trẻ, cười với trẻ, làm khuôn mặt ngộ nghĩnh, vui vẻ với trẻ. Nhẹ nhàng tạo ra một hình ảnh chính bạn mà trẻ yêu thích cùng với thức ăn của trẻ.

Trải nghiệm vận động: Nhiều trẻ vận động theo những cách thức không có mục đích, ví dụ như vẫy tay, nhảy, xoay người, hành động không có đích…Mặc dầu bạn có thể quan tâm về những hành vi này nhưng điều quan trọng là phải xem nó như cơ hội khác để tương tác với trẻ. Nếu một vài vận động làm cho trẻ thích thú, cố gắng tìm kiếm những cách thức để tham gia với trẻ trong những vận động này. Khi bạn thực hiện điều này, bạn ở trong một vị thế tốt hơn đi từ việc lập đi lập lại cho đến việc tương tác bằng cách tạo cho những hành động này những ý nghĩa mới.

-Nếu trẻ vẫy tay, bạn cũng vẫy tay và giả bộ như đang bay.Nếu trẻ không chú ý, hãy vẫy tay gần trẻ hơn. Có lẽ nên sờ vào trẻ một cách nhẹ nhàng khi bạn làm như vậy. Nếu cần thiết, bạn có thể đưa tay choàng lấy trẻ, trẻ có thể chống lại hoặc chạy khỏi hoặc trẻ có thể mỉm cười hay cười khúc khích. Trong mọi hình thức trên, trẻ đang tương tác với bạn đấy!

-Nếu trẻ xoay vòng vòng, nắm tay trẻ và hát bài hát “ nắm tay nhau thành vòng tròn” thay đổi tốc độ cho đến khi cả bạn và trẻ đều té ngửa ra. Trẻ sẽ biết ghi nhận bài hát và hành động sau một thời gian và sẽ cùng tham gia với bạn.

-Nếu trẻ đong đưa tới lui, ngồi đối diện với trẻ và cùng đong đưa với trẻ. Nếu trẻ không chú ý, đong đưa gần hơn.  Thay đổi nhịp điệu nhanh chậm và quan sát xem trẻ thích thú như thế nào?

-Nếu trẻ nằm trên sàn nhà, cùng nằm với trẻ và nói: À, con mệt hả? Để ba (mẹ) nằm với con và bạn nằm đè lên trẻ. Trẻ có thể đẩy bạn ra hay mỉm cười và thích thú cảm giác được đè mạnh như thế. Hoặc tắt đèn đi, đưa cho trẻ tấm chăn và gối rồi hát một lời ru nào đó. Trẻ sẽ ghi nhận được thói quen này và tự hỏi điều gì sẽ xảy ra. Nếu trẻ ngồi dậy, bạn nói “ chào buổi sáng” và mở đèn sáng lên.

Đây là một số cách nhằm tạo thuận lợi cho những cách thức trẻ ưa thích chuyển động nhằm tương tác với trẻ và chia sẻ với trẻ niềm vui thích:

Trẻ có cho bạn thấy là trẻ muốn nhảy? Cúi xuống phía trước trẻ khi trẻ nhảy nhằm mỗi khi trẻ đáp xuống vui vẻ trẻ nhìn thấy mặt của bạn, mỉm cười và gọi tên trẻ, hay sử dụng những tín hiệu thị giác hay tín hiệu báo trước để thu hút sự chú ý của trẻ đối với bạn.

-Trẻ có biểu hiện cho bạn thấy rằng trẻ muốn đánh đu bằng cách chỉ vào chiếc xích đu ở công viên hay ngoài sân? Hãy đẩy trẻ từ phía trước, không phải là phía sau nhằm thiết lập giao tiếp mắt khi trẻ đánh đu. Lại lần nữa, gọi tên trẻ, vỗ tay, hát, thu hút những ưa thích về  thị giác và thính giác của trẻ nhằm làm cho sự tiếp xúc của bạn trở thành vui thích hơn. Đôi khi đẩy trẻ một cái xem trẻ có phản ứng thế nào. Trẻ có biểu lộ thích thú khi bạn đưa trẻ lên xuống trong không khí?  Hãy lập lại và lập lại. Nhìn xem trẻ có nhìn bạn nhiều hơn hay không? . Làm điều đó nhiều lần nếu bạn có thể cho đến khi trẻ có biểu hiện muốn nghỉ giải lao.

Sử dụng niềm vui thích của trẻ trong một vận động nhằm tạo ra một thời điểm mà trẻ thích thú bạn. Đừng bao giờ cắt ngang tương tác của trẻ mà trẻ muốn tiếp tục, nhưng hãy thêm vào và làm cho chúng phong phú hơn. Làm như thế sẽ thách đố trẻ thực hiện nhiều đáp ứng hơn. Nếu trẻ thích chơi đấu kiếm, hãy di chuyển thanh kiếm theo vị trí không mong đợi trước, giữ nó phía sau hay đặt nó xuống đất. Điều này có thể khơi nguồn cho trẻ giao tiếp. “ Không, dừng lại! hãy đánh tiếp ngay đi” khi trẻ đặt kiếm vào tay bạn lại.

CHƠI ĐÙA VỚI ƯU ĐIỂM CỦA TRẺ VÀ LÀM VIỆC VỚI THÁCH THỨC CỦA TRẺ

Khi bạn cố nắm bắt được sự chú ý của trẻ hãy nhớ những ưu điểm của trẻ và những khó khăn trẻ gặp phải trong việc sử lý thông tin. Có phải trẻ xử lý thông tin thị giác thì dễ dàng nhưng thông tin thính giác thì ít hơn? Hay những manh mối thị giác thì không có đáp ứng, trong khi đó từ và âm thanh lại có được đáp ứng từ trẻ? Điều chỉnh giọng vỗ về của bạn phù hợp với điểm mạnh của trẻ. Nếu trẻ thu nhận kích thích thị giác tốt hãy sử dụng nét mặt và tư thế cơ thể  và cũng có thể làm một vài dấu hiệu đơn giản bằng tay, trong khi vẫn giữ lời nói của bạn ở mức cơ bản. Nếu trẻ nghe tốt, hảy sử dụng những âm thanh khác nhau và những từ ngữ khác nhau để dỗ dành trẻ, trong khi đó hãy giữ nét mặt và vận động cơ thể không quá phức tạp.

Nếu trẻ có vấn đề xử lý thính giác: Các vấn đề về xử lý thính giác có thể làm cho trẻ khó khăn khi chú ý đến bạn bởi vì trẻ có thể quên hay diễn dịch sai một số những dấu hiệu từ bạn. Trẻ không cảm thấy dễ chịu bởi giọng nói dịu dàng của bạn, ví dụ hoặc trẻ có thể không đáp ứng khi bạn gọi tên trẻ. Bạn có thể làm việc quanh thách đố này bằng cách nói chuyện một cách chậm rãi, tạo ra âm thanh khác biệt và hào hứng, sử dụng nhiều cử chỉ tay và nét mặt sống động để nhằm cung cấp cho trẻ các kích thích thêm. Nếu trẻ thích được chạm vào người, bạn có thể sử dụng xúc giác nhằm thu hút sự chú ý của trẻ và  trấn an trẻ.

Nếu trẻ quá phản ứng với cảm giác, hãy cận thận giữ cho giọng nói của bạn nhẹ nhàng, cử chỉ dịu dàng (nhưng hào hứng và đặc biệt), để không làm cho trẻ bị tràn ngập bởi những kích thích. Thay đổi cung giọng nhanh chóng nếu trẻ bịt tai. Nếu trẻ kém đáp ứng, tăng cung giọng của bạn lên thay đổi cử chỉ. Nói một cách chậm rãi nhằm giúp trẻ xử lý được từ , nhưng bạn nên nói một cách sống động và tạo những cử chỉ rõ ràng hơn. Nhớ rằng có thể có sự đáp ứng chậm trước khi trẻ tổ chức được một đáp ứng đối với điều trẻ nghe được. Hãy kiên nhẫn và chờ đợi trong một thời gian.

Trẻ có khó khăn về xử lý thính giác học ghi nhận từ và các kiểu âm thanh phải được biểu hiện bằng cảm xúc rõ rệt hoặc có ý nghĩa đặc biệt, những cụm từ như “ sẵn sàng chưa?” “ đi” hay “Ô, không!” điều gì sai ?” sử dụng những từ  và cụm từ này bất kỳ lúc nào nếu thấy phù hợp. Ngay cả nếu trẻ không lập lại từ, trẻ cũng sẽ ghi nhận qua cung giọng cảm xúc của bạn. Cũng thế, đặt tên vào hành động của trẻ với những từ đơn giản khi thấy trẻ thực hiện : nói “ chạy” “ nhảy” leo” khi trẻ di chuyển và bắt chước hành động của trẻ khi bạn nói.

Nếu trẻ có những khó khăn về hoạch định vận động: Nếu trẻ có khó khăn về hoạch định vận động, trẻ sẽ thấy khó khi tổ chức một chuỗi những cử chỉ. Khi bạn lăn cho trẻ trái bóng, thay vì lăn trở lại, trẻ có thể nhìn trái bóng, nhìn bạn, rồi nhìn ra chỗ khác. Nếu trẻ nhìn con rối gần đó, trẻ có thể cầm nó lên và bắt đầu chơi, nhưng trẻ lại không cho vào tay và di chuyển nó. Sự ngẫu nhiên rõ ràng này có thể gợi ý rằng trẻ dễ bị sao nhãng và khó giữ được sự chú ý của trẻ. Nhưng gốc rễ của sự ngẫu nhiên này không phải là do thiếu sự hứng thú mà là do khó khăn trong việc nối kết cách hành động lại với nhau. Những vận động đơn giản cần phải bắt được trái bóng và đẩy nó trở lại có thể quá khó đối với một trẻ có những vấn đề về hoạch định vận động.

Bạn có thể giúp trẻ cải thiện hoạch định vận động bằng cách giúp trẻ làm chủ được mỗi vận động trong hàng loạt vận động, từng bước một. Bạn có thể lăn trái bóng đến gần trẻ, khi trẻ bắt đầu nhìn ra chỗ khác, tiến lại rất gần, làm khuôn mặt của bạn sống động và giọng nói cũng vậy, bạn nói một cách chơi đùa  “ bóng, bóng, lăn lại đây, lăn lại”. Có thể mất 5 phút nhưng nếu bạn kiên nhẫn và sống động, trẻ sẽ hoàn tất hành động. Bạn sẽ thu hút được sự chú ý của trẻ vào bạn trong lúc xây dựng một nền tảng cho một chuỗi những hành động. Điều quan trọng là cho trẻ hoàn tất hành động. Nếu bạn cầm lấy tay trẻ và đẩy trái bóng, trẻ sẽ chẳng học được gì. Nhưng nếu bạn có thể sử dụng giọng nói của mình để thu hút sự quan tâm của trẻ, để đẩy trẻ muốn lăn trái bóng đến phía bạn, sau đó trẻ tương tác với bạn một cách có ý nghĩa cũng như trẻ học được cách thức vận động. Điểm cốt lõi là  làm di chuyển theo cảm nhận của trẻ những cảm nhận là điều gì cho hướng và mục đích đối với những hành động của trẻ. Khả năng thực hiện chuỗi vận động của trẻ càng yếu thì trẻ càng phải được khuyến khích nhiều. (Một số trẻ cần giúp đỡ chỉ khi bắt đầu mẫu vận động. Bạn có thể giúp trẻ bằng cách đặt bóng vào tay trẻ. Bước này ra dấu cho biết rằng đây là lúc hành động).

Khi trẻ có những thách đố về hoạch định vận động, rất dễ làm cho trẻ thờ ơ và không chú ý , và bạn kết luận rằng trẻ không chú ý đến bạn. Khi bạn sống và làm việc với trẻ, hãy nhắc nhở mình rằng đây không phải là vấn đề gì, sự khó khăn về hoạch định vận động của trẻ làm cho trẻ khó khăn theo mục đích đối với bạn.

Kết luận: Hoà nhập cảm giác là bước khởi đầu để giúp trẻ tự điều chỉnh nhằm giúp  trẻ thích nghi với những kích thích từ môi trường sống và thiết lập nhịp điệu sinh học cho chính mình. Khi trẻ ổn định và thoải mái, dễ chịu, trẻ sẽ dễ dàng và sẵn sàng hơn cho hoạt động tương tác và liên hệ với người chăm sóc hay nhà trị liệu. Khi mối quan hệ được thiết lập, lúc đó các bước trị liệu tiếp theo có thể diễn ra một cách dễ dàng và thuận lợi hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1)      Sensory Integration: Practical Strategies and Sensory Motor Activities for Use in the Classroom (Micheal C. Abraham, C.A.P.E; 2002)

2)      The Child with Special Needs (Stanley I. Greenspan, MD; Serena Wieder, PhD; 1998)

3)      Sensational Kids (Lucy Jane Miller, PhD, OTR, 2006)

4)      www.tamlyhocthankinh.com